Thống Kê
Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 19 người, vào ngày Sun Sep 10, 2017 8:21 pm
Đăng Nhập

Quên mật khẩu

Latest topics
» 5 Loài Cây Kỳ Quái Bạn Không Tin Chúng Tồn Tại
by RELAX Sat Oct 21, 2017 1:16 pm

» KIẾP DÃ TRÀNG (MT-150)
by Ntd Hoa Viên Tue Oct 17, 2017 9:55 am

» TẬP THƠ : TAN VỠ TÌNH ĐẦU !
by nguoitruongphu Fri Oct 13, 2017 11:57 am

» KHÚC ĐOẠN TRƯỜNG (MT-149)
by Ntd Hoa Viên Thu Oct 12, 2017 2:04 pm

» THIẾU PHỤ BỒNG CON (MT-148)
by Ntd Hoa Viên Fri Sep 29, 2017 5:35 pm

» phim hành động_đại chiến người ngoài hành tinh
by sport06mkt Tue Sep 26, 2017 5:15 pm

» Đa số con người tin UFO có thật | Thuyết minh
by RELAX Sun Sep 17, 2017 9:25 pm

» 5 Người Du Hành Đến Từ Thế Giới Khác
by RELAX Sun Sep 17, 2017 9:19 pm

» 10 thảm họa thẩm mỹ khủng khiếp và đáng sợ nhất Thế Giới
by RELAX Sun Sep 17, 2017 9:07 pm

» Charlie Puth - Attention [Official Video]
by RELAX Sun Sep 17, 2017 9:00 pm

» Duffy - Mercy
by RELAX Sun Sep 17, 2017 8:54 pm

» Duffy - Warwick Avenue (Official Video)
by RELAX Sun Sep 17, 2017 8:50 pm

» Adele - Rolling in the Deep
by RELAX Sun Sep 17, 2017 8:47 pm

» Sarah Brightman Andrea Bocelli - Time to Say Goodbye
by RELAX Sun Sep 17, 2017 8:38 pm

» Chuyện đêm muộn Tình yêu của người chuyển giới cùng Lâm Khánh Chi
by RELAX Sat Sep 16, 2017 12:17 pm

» Học Tài Thi Phận Việt Hương,Bảo Liêm CỰC HAY
by RELAX Fri Sep 15, 2017 7:01 pm

» NGẮM QUỲNH TRONG ĐÊM (MT-146-147)
by Ntd Hoa Viên Tue Sep 12, 2017 11:21 am

» Giả thuyết về nền văn minh tiền sử tiên tiến qua 17 cổ vật Oopart (Phần I)
by Angelique Sun Sep 10, 2017 5:15 pm

» Lịch sử trước thời chúng ta đã biết (Phần 2): Dấu tích của các công nghệ đã thất lạc
by Angelique Sun Sep 10, 2017 5:03 pm

» Lịch sử trước thời chúng ta đã biết (Phần 1): Các hóa thạch không nói dối
by Angelique Sun Sep 10, 2017 4:59 pm

» 10 BÍ KÍP Mà Có Ngày Chúng Sẽ CỨU MẠNG Bạn - Chuyện Lạ Kỳ Thú
by thunga9 Sat Sep 09, 2017 4:00 pm

» MẸ BẢO CON (TN-MT-145)
by Ntd Hoa Viên Mon Sep 04, 2017 8:29 pm

» Mù mặt - Một chứng bệnh bí ẩn
by thunga9 Sun Sep 03, 2017 10:15 pm

» TỰ NHỦ (MT-TN-144)
by Ntd Hoa Viên Tue Aug 22, 2017 2:44 pm

» Phá huỷ sòng bạc ở Las Vegas | Thuyết minh
by aphilong Mon Aug 21, 2017 8:59 pm

» Bên trong thế giới ngầm | Thuyết minh
by aphilong Mon Aug 21, 2017 8:57 pm

» Quá trình khai thác kim cương ở Bắc cực - HD Thuyết minh
by aphilong Mon Aug 21, 2017 8:52 pm

» THƯƠNG NHỚ CẬU HAI - NGỌC HỘI
by aphilong Sun Aug 13, 2017 8:15 pm

» ĐÒ DỌC - NGỌC HỘI
by aphilong Sun Aug 13, 2017 8:02 pm

» Lý Bập Bòong Boong (Hữu Thọ- Trương Bảo Như)
by aphilong Sun Aug 13, 2017 7:49 pm

» Lý Cây Chuối (Hữu Thọ-Trung Hậu-Bảo Như-Đông Dương-Thúy Lê-Quang Bình)
by aphilong Sun Aug 13, 2017 7:44 pm

» Ly bằng răng (Hữu Thọ-Trung Hậu)
by aphilong Sun Aug 13, 2017 7:40 pm

» Lý Cái Mơn - Mã Tuyết Nga
by aphilong Sun Aug 13, 2017 7:36 pm

» Lý Đất Giồng
by aphilong Sun Aug 13, 2017 7:31 pm

» Lý Cây Khế
by aphilong Sun Aug 13, 2017 7:28 pm

» 7 Website Đáng Sợ Sẽ Khiến Bạn Phải Rùng Mình
by aphilong Sat Aug 12, 2017 8:49 pm

» 5 hiện tượng bí ẩn về người ngoài hành tinh
by aphilong Sun Jul 23, 2017 11:26 pm

» Rúng động những lần chạm trán người ngoài hành tinh
by aphilong Sun Jul 23, 2017 11:23 pm

» Những bằng chứng chứng minh người ngoài hành tinh tồn tại
by aphilong Sun Jul 23, 2017 11:19 pm

» 10 bí ẩn về người ngoài hành tinh
by aphilong Sun Jul 23, 2017 11:16 pm

» Cuộc chạm trán kinh hoàng với "người ngoài hành tinh" năm 2009
by aphilong Sun Jul 23, 2017 11:14 pm

» Bí ẩn đằng sau sinh vật "bất tử" duy nhất trên Trái đất
by aphilong Sun Jul 23, 2017 11:04 pm

» Bí ẩn những chủng người ngoài hành tinh đã có mặt trên Trái Đất
by aphilong Sun Jul 23, 2017 11:00 pm

» Phim tài Liệu Hay Nhất 2017 | NASA công bố những bí mật về Hố Vũ Trụ
by Angelique Sun Jul 23, 2017 4:08 pm

» Cô giáo Khánh đọc tiếng Anh như tiếng Thái
by lethuyhang Sun Jul 23, 2017 4:00 pm

» Vầng Trăng Khóc - Nhật Tinh Anh ft Khánh Ngọc
by aphilong Sun Jul 23, 2017 3:42 pm

» Tinh Yeu Trong Sang - Saka Truong Tuyen - Luong Gia Huy
by aphilong Sun Jul 23, 2017 3:39 pm

» MONG NGÀY HẠNH PHÚC (MT-142-143)
by Ntd Hoa Viên Mon Jul 17, 2017 3:26 pm

» NGHĨA MẸ ƠN THẦY (MT-140-141)
by Ntd Hoa Viên Fri Jul 14, 2017 4:30 pm

» Vấn đáp: Bùa ngải có hay không, trì tụng Thần chú, cải đạo qua hôn nhân
by Dương Đức Sun Jul 02, 2017 4:47 pm

» Bí Mật 69 : Bùa Ngải
by Dương Đức Sun Jul 02, 2017 4:44 pm

» Bí Mật 51: Thôi Miên
by Dương Đức Sun Jul 02, 2017 4:19 pm

» Bí Mật 33 : Bí Ẩn Kì Diệu Của Thôi Miên
by Dương Đức Sun Jul 02, 2017 3:41 pm

» NASA Thực Sự Đang Che Giấu Bí Mật Khủng Khiếp Nào Trên Mặt Trăng?
by Angelique Sun Jul 02, 2017 1:16 pm

» The Translated Russian 'Secret Book Of Alien Races A.R.B" 2016 HD
by Angelique Sun Jul 02, 2017 1:08 pm

» 23 lính Nga bị người ngoài hành tinh biến thành đá sau khi bắn hạ UFO
by Angelique Sat Jul 01, 2017 5:33 pm

» Sửng Sốt Với Hình Đĩa Bay Trước Chùa Thiên Mụ |
by Angelique Sat Jul 01, 2017 5:29 pm

» Series 'Những câu chuyện về Fatso' - Phần 1
by Angelique Tue Jun 27, 2017 11:04 pm

» Thật khó để xây tượng đài Ai Cập vĩ đại bằng thủ công, họ đã dùng công nghệ bí truyền nào?
by Angelique Tue Jun 27, 2017 10:56 pm

» Bí ẩn về Anunnaki, hành tinh Nibiru (X) và các giả thuyết về người ngoài hành tinh
by Angelique Tue Jun 27, 2017 10:52 pm

» TIẾNG GIÓ ĐÊM THU (MT-138-139)
by Ntd Hoa Viên Thu Jun 22, 2017 10:40 pm

» Mẹo nhỏ rùng rợn: Chứng minh là bạn có giá trị
by Angelique Wed Jun 21, 2017 10:17 pm

» Mẹo nhỏ rùng rợn: Ngậm ốc sên
by Angelique Wed Jun 21, 2017 10:15 pm

» Mẹo nhỏ rùng rợn: Giảm cân
by Angelique Wed Jun 21, 2017 10:10 pm

» Giải mã hội kín Illuminati
by Angelique Wed Jun 21, 2017 10:06 pm

» 3 hội kín nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại
by Angelique Wed Jun 21, 2017 10:02 pm

» Những nét cơ bản về Illuminati
by Angelique Wed Jun 21, 2017 10:01 pm

» Hồ sơ số 15: Virus 2K
by Angelique Wed Jun 21, 2017 9:58 pm

» Hồ sơ số 14: Hội kín Watchers of the Red Star
by Angelique Wed Jun 21, 2017 9:52 pm

» Hồ sơ số 13: Sự may rủi
by Angelique Wed Jun 21, 2017 9:49 pm

» Hồ sơ số 12: Cuộc giải phẫu 89
by Angelique Wed Jun 21, 2017 9:47 pm

» Trọn bộ cuốn sách bí ẩn về những chủng loài người ngoài hành tinh - Alien Races Book
by Angelique Wed Jun 21, 2017 9:42 pm

» Phim Hành Động Viễn Tưởng Mỹ Thuyết Minh Hay Nhất 2017 - Phim Hành Động Mỹ
by Angelique Sat Jun 03, 2017 11:02 pm

» Top 10 bộ phim về du hành vũ trụ hay nhất
by Angelique Sat Jun 03, 2017 11:00 pm

» Chương Trình Du Hành Thời Gian Bí Mật Của Cơ Quan Tình Báo Mỹ CIA
by Angelique Mon May 29, 2017 10:13 pm

» Chiến dịch Gladio: Những đạo quân khủng bố bí mật của NATO tại Tây Âu
by Angelique Mon May 29, 2017 10:09 pm

» CIA, MI6 kiểm soát mạng lưới Thương mại buôn bán ma túy toàn cầu
by Angelique Mon May 29, 2017 9:52 pm

» Pokemon Go là phần mềm gián điệp của CIA
by Angelique Mon May 29, 2017 9:49 pm

» Vén màn bí ẩn chương trình kiểm soát tâm trí con người của CIA
by Angelique Mon May 29, 2017 9:48 pm

» Vũ khí điện từ kiểm soát não: Biến đổi hành vi và nhân cách con người
by Angelique Mon May 29, 2017 9:45 pm


Tết ta..................

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Tết ta..................

Bài gửi by Lý Quảng on Wed Dec 15, 2010 3:12 pm


Tiếng Việt thuộc hệ ngữ Nam Á, nhánh Môn - Khơ Me. Hàng vạn năm trước, ngôn ngữ Nam Á là một ngôn ngữ thống nhất của chủng Indonesian trên tiểu lục địa Trung - Ấn trong đó có bán đảo Đông Dương. Khảo cổ và nghiên cứu nhân chủng học cho thấy đây là cư dân bản địa của nền văn minh Đông Nam Á cổ, nền văn minh nông nghiệp sớm nhất của nhân loại.Từ đó họ thiên cư “50 con theo mẹ đi lên núi, 50 con theo cha đi xuống biển” khai phá nông nghiệp vùng lục địa Trường Giang, Hoàng Hà (Trung Quốc ngày nay) và vùng đảo Indonexia, Đài Loan, Nhật Bản và các đảo Thái Bình Dương. Ngôn ngữ Nam Á thống nhất ấy lúc đầu là ngôn ngữ đa âm tiết không có thanh điệu. Dần dần chủng tộc Indonesien này phát triển thành nhiều dân tộc, và ngôn ngữ cũng phát triển theo nhiều xu hướng khác nhau, một số đã theo xu hướng đơn âm hóa đương nhiên nảy sinh thanh điệu, như ở tiếng Việt thành ra có 6 thanh điệu, ở tiếng Thái thành ra có 5 thanh điệu, ở tiếng Hoa thành ra có 4 thanh điệu trong tiếng phổ thông Trung Quốc ngày nay còn ở tiếng địa phương như Đài Loan lại có 8 thanh điệu. Căn cứ để xác định ngôn ngữ có cùng gốc là: qui luật kết cấu ngữ pháp, cách phát âm, sự gần gũi của các từ cơ bản. Ví dụ từ cơ bản tiếng Việt so với từ đồng nghĩa của các sắc tộc khác (trong ngoặc đơn) sẽ thấy rõ cùng cội nguồn: Nước = Đắc (Ba Na) = Lạc (Việt cổ vùng Hoa Nam) = Nác (Việt ở Trung Bộ ) = Nậm (Tày) = Nam (Thái Lan); Sông = Krông (BaNa) = Krong (Chăm) = Không (Mường) = Khoỏng (Thái Lan) = Giang (Hoa) = Sônggai (Mã Lai)= Sông ngòi (Việt); Cá = Kaa (XêĐăng )= Pá (Thái) = Ká (Mạ) = Cả (Mường ) = Aka (Mã Lai) = Xacana (Nhật Bản) = Kán (Chăm - đây chính là gốc các từ Cần, Cờn, Quèn, Còng chỉ địa danh như Cần Giờ, Cần Thơ ở Nam Bộ, cửa Cờn ở Nghệ An, lạch Quèn, chợ Còng ở Thanh Hóa, là các cửa sông, bến cá); Con = Kon (Mạ) = Cón (Mường) = Koon (Ba Na) = Kooon (Xê Đăng) = Kodomo (Nhật Bản) = Côn (Khơ Me) = Coong (Việt ở Nam Bộ); Ruồi = Rooi (Ba Na) = Ròi (Việt ở Nghệ An) = Rhai (Mạ) = Ruuêi (Mường) = Ruy (Khơ Me); Ngày = Ngai (Mường) = Thngay (Khơ Me) = Haai (Xê Đăng) = Tngay (Môn ở Mianma); Mặt Trăng = Mạt Tlăng (Ba Na) = Maht Kăn (Mạ) = Blaăng (Chăm) = Bulăng (Mã Lai) = Đoong Chăn (Lào); Trái cây = Trấy (Việt ở Trung Bộ) = Plây (Ba Na, Xê Đăng) = Blái (Mạ); Chim = Chim (Mạ, Xê Đăng) = Sêêm (Ba Na) = Tiêm ( Khơ Mú ở Tây Bắc – từ Tiêm này sau sinh ra từ Tiên trong chữ nho để thần tượng hóa người biết bay lên trời thành Tiên, tục thờ chim Hạc = chim Lạc đưa hồn người lên trời) = Cầm (Việt cổ ở Hoa Nam – người Hán phiên âm là “Sín” nhưng chỉ dùng để chỉ giống chim nuôi trong nông nghiệp dịch từ “chim nhà” gọi ngược là “gia cầm”, đủ thấy nghề này là từ phương Nam truyền lên, chim trời họ gọi là con “nẻo” tức “điểu” chứ không hề có từ “gia điểu”).

Học giả Haudricourt nghiên cứu ngôn ngữ Việt (năm 1953,1954) chỉ ra một trong các đặc điểm tạo từ của tiếng Việt là tạo thêm từ bằng phụ tố như kiểu: Giết - chết, cọc - nọc, kẹp - nẹp. Điều này quá rõ, nếu trích dẫn các từ cùng gốc như vậy ra thì nhiều vô cùng. Vì cái logic ấy cho nên con Ròi thì con của nó phải là con Dòi, con Cóc thì con của nó phải là con Nòng-Nọc, con Ong thì con của nó phải là con Nhộng, con Người hay con Ngài thì con của nó phải là Hài do lớn lên từ cái Thai (mà Hán ngữ mượn dùng từ Hài phải nói là “hài tử” hay “hài nhi” hay “hài đồng” thì mới thành nghĩa “con”), Con Người còn có cái để thể hiện linh khí của nó ra ngoài là Con Ngươi của mắt. Trong thiên nhiên thuở hồng hoang thì con Người cũng như các động vật khác chỉ là con Mồi, chỉ khác là biết đứng thẳng, nên chữ nho viết là chữ Mùi hoàn toàn biểu ý bằng chữ nhân 人 ghép với chữ lập 立 nghĩa là đứng, thành chữ Mùi 位 sau đọc là Vị 位 (Hán ngữ phiên âm là “wei”), các Người = các Ngài = các Vị.

Nhưng cái “phụ tố” mà học giả Haudricourt nêu mới chỉ là nói phần âm vận ở cuối chữ tạo nên cái âm lõi như “ết”, “ọc”, “ẹp” ở trên v.v. Người Việt còn cách tạo từ cực kỳ quan trọng, có thể tạo ra hàng vạn vạn từ đơn âm tiết có nghĩa, bằng cách Vo các từ đa âm tiết của ngôn ngữ Nam Á trong cái Vỏ đựng, như cái Vò hình cầu là biểu tượng Âm Dương của người Lạc Việt, như cái Vũ của vũ trụ hình cầu chứa đựng tất cả, để từ ấy rụng đầu rụng đuôi đi rồi còn mỗi lõi giữa là một âm tiết có kèm thêm thanh điệu. Ví dụ từ “O-NA-DI” của tiếng Nhật nghĩa là “giống”, khi bị vo tròn nhưng chưa dứt hẳn nó đã bị rụng mất đầu “O” và đuôi “DI” đi, còn lõi giữa là “NA” nhưng chưa sạch hẳn nên nó thành từ dính, tức láy là hai âm tiết dính nhau không thể đảo ngược, là “NA-NÁ” nghĩa là “hơi giống”. Nhưng cũng có lúc do vo mạnh tay hơn nhưng lại vo không đều tức không tròn trịa nên nó bị rụng mất “O” và “NA” ở đầu đi, còn lại mỗi “DI” ở cuối kèm theo vài mảnh vụn bám vào nên nó thành có đuôi và có thanh điệu thành từ “DỐNG” mà đa số phát âm là “GIỐNG” nên chính tả chấp nhận là “GIỐNG”. Như vậy ở tiếng Nhật chỉ có mỗi “O-NA-DI” nhưng ở tiếng Việt có “NA-NÁ” và “GIỐNG” mang hai sắc thái khác nhau của cùng một nghĩa. Ai có lý giải nào khác về nguồn gốc hai từ này, tôi xin được tham khảo. Việc “vo” này xảy ra hàng sáu bảy ngàn năm trước rồi chứ không phải trong thời cận đại đâu.

Lại còn nhờ qui tắc chia đôi Âm Dương một tiếng đơn âm thành từ láy dính hai âm tiết mà trong cách tạo từ của tiếng Việt còn có vai trò của một “phụ tố “ nữa là: cùng phụ âm đầu. Ví dụ từ “Lộ” nghĩa là con đường đi, do có qui tắc phụ tố là cùng phụ âm đầu mà nó đã cho ra biết bao từ trong tiếng Việt cùng gốc phụ âm “lờ” đầu với nó để chỉ các loại đường đi và các cách đi khác nhau: LỐI là đường đi nhỏ trong xóm làng; LỘI là đi bằng chân, lội bộ = đi bộ; LOẠNG-CHOẠNG là đi như muốn ngã; LÁCH, LUỒN, LẺN, LẤN là những cách đi có tính toán; LÙA là xua bầy gia súc gia cầm đi; LEN- LỎI là vừa đi vừa tìm đường; LEN trâu là vừa lùa trâu đi vừa tìm đường trong nước lụt (phim “Mùa len trâu”); LỎI là tìm đường ngoi lên cho hơn người, “sao mày lỏi thế hả đồ khôn lỏi!”; LƯỚT là đi nhanh bằng thuyền; LƯỢT (rượt) là chạy nhanh để đuổi ; LÓN-LÉN (rón-rén) là đi nhẹ tránh phát hiện; LÁI là điều khiển cho phương tiện đi; LEO là đi lên độ cao ( Người Hán dùng từ “lộ” của chữ nho 路 chỉ con đường, nhưng trong tiếng Hán không thấy từ nào khác cùng phụ âm đầu là “lờ” với nó mà có cùng khái niệm đường đi hoặc cách đi cả, có lẽ vì dân trên đồng cỏ mênh mông bằng phẳng chẳng cần phải có đường,chỉ có dân rừng nhiệt đới mới phải len lỏi tìm lộ để đi thành đường mòn. Vậy chữ nho LỘ 路 này nguyên gốc là từ đâu? chữ này có phần biểu ý là bộ túc 足 tức chân đi, và phần biểu âm là chữ các 各, đáng lý phải đọc là Lạc, hiểu ý là “cách đi của Lạc dân”, có phải do người Việt là dân sông nước nên phương tiện đi lại chủ yếu là bằng thuyền trên Nác hay Lạc?).

Còn một qui tắc tạo từ nữa trong tiếng Việt là qui tắc “lướt”, từ ghép hay cả câu dài đều có thể lướt thành một âm tiết, như: “hai mươi” = “hăm”; “ba mươi” = “băm”; “TRái cÂY” dân miền Trung lướt thành “TRẤY”, “Hỏi gì đẤY?” lướt thành “HẤY?”; đi “té re” là nói chung đi lỏng, nhưng trẻ sơ sinh “đi Té re làm ƯỚT cả tã do nó không thể tự kềm chế được” người ta lướt thành “đi TƯỚT”, chỉ dùng cho trẻ sơ sinh mà thôi; “THỢ tay nghề cao có thể dũa Lưỡi cưa cho sắc và đúng góc độ như mỚI” gọi lướt là “THỢ LỠI”; “HỖN hợp LẮM thứ BA lăng nhĂNG” lướt thành từ “HẰM BÀ LẰNG”; “tự ĐI du lịch PHóng khoáng VƯỢT qua mọi trở ngại thiên nhiên và chối bỏ sự gò bó của tua truyền thống” gọi lướt thành từ “ĐI PHƯỢT” (từ mới của dân teen trên mạng đã được phương tiện thông tin đại chúng sử dụng) v.v.Qui luật lướt này cũng là đã có từ nhiều ngàn năm trước rồi. Cụ thể là học giả Hứa Thận thời Đông Hán đã sử dụng qui tắc này để “thiết” tự làm nên cuốn sách công cụ dạy cách đọc chữ nho cho đúng âm, mỗi chữ nho được “thiết” bằng hai chữ nho khác (tức đọc lướt hai chữ nho khác) cho ra âm đúng của chữ cần đọc, đó là cuốn “Thuyết văn giải tự” (nhưng mà khi đọc thì phải đọc đúng như âm Việt của người Việt đọc chữ nho thì mới thấy đúng, chứ nếu đọc theo phiên âm latin như tiếng phổ thông Trung Quốc tức “Hán ngữ hiện đại” thì lại trật, thời Đông Hán ông Hứa Thận viết cuốn này để giải nghĩa hàng vạn chữ kèm cách đọc, chưa có biết đến chữ phiên âm latin). Vài ví dụ như sau: (phiên âm latin của Hán ngữ viết trong ngoặc đơn, dấu “ = ” là để thay cho chữ “lướt thành”
TÚC 足 (zú) nghĩa là cái chân , đọcTỨC 即 NGỌC 即 = TÚC ( jí yù = jù ; jù trật zú)
HÀNH 行 (xíng) nghĩa là làm, đọc HỘ 戶 CANH 庚 = HÀNH (hù geng = heng, trật xíng)
CẬN 近 ( jìn) nghĩa là gần, đọc CỪ 渠 LÂN 遴 = CẬN ( qú lín = qín; qín trật jìn)
ĐẬU 逗 (dòu) nghĩa là dừng, đọc ĐIỀN 田 HẦU 侯 = ĐẬU (tián hòu = tòu, tòu trật dòu)
VẬN 運 (yùn) nghĩa là chở, đọc VƯƠNG 王 VẤN 問 = VẬN (wáng wèn = wén, trật yùn)
NGỘ 遇 ( yù) nghĩa là gặp, đọc NGƯU 牛 CỤ 具 = NGỤ ( níu jù = nù; nù trật yù)
TẠO 造 (zào) nghĩa là chế, đọc THẤT 七 ĐÁO 到 = TẠO ( qi dào = qiào; qiào trật zào)
QUÁ 過 (guò) nghĩa là qua, đọc CỔ 古 HÒA 禾 = QUA ( gu hé = gé; gé trật guò)
TIỀN 前 (qián) nghĩa là trước, đọc TẠC 昨 TIÊN 先 = TIỀN (zuó xian = zan; zán trật qián)
CÁC 各 (gè) nghĩa là nhiều, đọc CỔ 古 LẠC 洛 = CÁC ( gu luò = guò; guò trật gè)
KHIẾU 叫 (jiào) ,nghĩa là kêu, đọc CỔ 古 ĐIỀU 伄 = KHIẾU ( gu diào = giào, trật jiào)
DUY 唯 ( wei) nghĩa là dạ vâng, đọc DĨ 以 THỦY 水 = DUY ( yi shui = yui; yui trật wei)
TRIẾT 哲 ( zhé) nghĩa là biết, đọc TRẮC 陟 LIỆT 列 = TRIẾT( zhì liè = zhiè; zhiè trật zhé)
NGƯU 牛( níu) nghĩa là trâu, đọc NGỮ 語 CẦU 求 = NGƯU ( yu qíu = yiu; yiu trật níu)
NGỮ CẦU = NGẦU (tiếng Quảng Đông)
= TRÂU (tiếng Việt)
= TRU (tiếng Việt ở Nghệ An)
= TLU( tiếng Mường)
TIẾN 薦 (jiàn) nghĩa là cử, đọc TẠI 在 ĐIỆN 甸 = TIẾN (zài diàn = ziàn; ziàn trật jiàn)
LẠC 落( luò) nghĩa là rớt, đọc LÔ 盧 CÁC 各 = LẠC ( lú gè = lè; lè trật luò)
DÂN 珉( mín) nghĩa là cái đẹp của đá, đọc VŨ 武 CÂN 巾 = VÂN ( wu jin = win, trật mín)
HÀ瑕 ( xía) nghĩa là đá giống ngọc, đọc HỒ 胡 QUẢI 拐 = CUỘI ( hú guai = huai trật xía)
GIAM 瑊 ( jian) nghĩa là đá đẹp như ngọc, đọc CỔ 古 HÀM 函 = CƯỜM ( gu hán = gán; trật jian) - Trang sức như vòng đeo tay hay khuyên đeo tai bằng cuội hay cườm có ở di chỉ khảo cổ văn hóa Sa Huỳnh miền Trung Việt Nam.
THỤY 瑞 ( rùi) là ngọc làm tin, đọc THỊ 是 NGỤY 偽 = THỤY ( shì wei = shei; trật rùi)
VƯƠNG 王 ( wáng) nghĩa là vua , đọc VŨ 雨 PHƯƠNG 方 = VƯƠNG ( yu fang=yang; trật wáng)
VINH 榮 ( róng) nghĩa là vẻ vang, đọc VI 為 MỊNH 命 = VINH ( wéi ming = wing; wing trật róng)
PHÚC 福 ( fù) nghĩa là được phù hộ, đọc PHƯƠNG 方 LỤC 六 = PHÚC ( fang lìu = fìu; trật fù)
THẦN 神 ( shén) nghĩa là thần, đọc THỰC 食 LÂN 遴 = THẦN (shí lín = shín ; trật shén)
BÍ 秘 (mì) nghĩa là thần bí, đọc BINH 兵 MI 媚 = BÍ ( bing méi = béi; béi trật mì).
VIỆT 越 (yuè) nghĩa là vượt qua (nguyên văn: độ dã), đọc VƯƠNG 王 PHẠT 伐 = VIỆT(wáng fá = wá; wá trật yuè).
Có lẽ phần “giải tự” chữ Việt này của ông Hứa Thận là chính xác nhất về nguồn gốc từ “Việt” xuất hiện từ khi nào trong lịch sử. Hán thư thì viết rằng từ “Việt” xuất hiện vào thời Xuân Thu. Theo “giải tự” ở đây thì VIỆT= VƯƠNG PHẠT tức “ông vua đi chinh phạt” thì phải có sớm hơn rất nhiều, đó là sự kiện nổi tiếng lịch sử cổ đại là vụ vua Chu Văn Vương tức ông Tây Bá Cơ Xương vượt sông đi bắc phạt tiêu diệt vua Trụ nhà Thương, có lẽ từ đó người ta mới gọi quân của “ Vương Phạt” là quân “Việt”, trước đó thì họ chỉ gọi là dân Lạc của Lạc Quốc mà thôi.
Qua đó bạn đọc tự thấy là chữ nho và cách đọc nó đúng như Trung Hoa đọc thời thượng cổ là đã truyền từ Nam lên Bắc hay nó đã đi từ Bắc xuống Nam? Người quan tộc đọc không nổi chữ nho nên thầy Hứa Thận mới phải soạn ra sách “Thuyết văn giải tự” là cuốn sách công cụ để dạy cho họ cách đọc chữ nho cho đúng âm điệu của nó.

Qui tắc lướt để tạo từ như nêu ở trên, và thời cổ đại đã được Hứa Thận vận dụng để dạy cách đọc chữ nho , cho ta thấy là chữ QUỐC là hậu duệ trực hệ của chữ NƯỚC. Hán thư viết thời Tam Hoàng Ngũ Đế thì dân sống theo “thủy” (ý nói dòng chảy, con nước) nên lấy tên “thủy” đó làm tên xứ sở và làm họ. Vậy mà cho đến tận bây giờ cũng chỉ còn có mỗi dân tộc Việt là duy nhất trên thế giới này gọi xứ sở mình là “nước”, vậy họ có phải chính là hậu duệ đích tôn của Tam Hoàng Ngũ Đế ấy hay không?. Con nước nơi quần cư, thời cổ đại dân Việt gọi là Nác hay Lạc mà Hán phải gọi là Lạc Thủy. Nhiều Nác nhỏ hợp lại thì thành một nền hành chính lớn cấp trên là “Nác Của Nác”. Chữ “Của Nác” ấy đọc lướt theo qui tắc tạo từ của tiếng Việt thì thành Quốc. Của Nác = Quốc( cụ Hồ còn ký là Nguyễn Ái Quấc), nên “Nác Của Nác” thành “Nác Quốc” mà chữ nho viết là Lạc Quốc. Chữ “Của” thì trong tiếng Quảng Đông là “Cơ”, Của Nác họ đọc là Cơ Lạc nên lướt thành Coọc. Chữ nho Quốc 國 là một vuông nghĩa là “ Vùng”, bên trong có chữ "Hoặc 或 ” là âm lướt của hai chữ “Họ Lạc” (" Hoặc" = "Họ Lạc" ), ghép bằng chữ Qua 戈 là cái qua đồng của người Lạc Việt. Hán thư viết, dân thời Tam Hoàng Ngũ Đế sống theo “thủy” lấy “thủy” làm họ, vậy “Họ Lạc” tức dân Lạc lấy Lạc làm họ đó thôi. Chữ Chu 周được ông Hứa Thận thời Đông Hán “giải tự” nghĩa là Mật tức đông đúc, nên Chu Văn Vương 周 文 王 nghĩa là Vua Vùng Đông Đúc, vì chữ Văn 文 tiếng Quảng Đông đọc là Mảnh cũng có nghĩa là Vuông tức Vùng, là một diện tích, như từ Mảnh Ruộng trong tiếng Việt, mà về hìnhchữ Văn 文 thì nó có vạch chéo là cái đường chéo tượng trưng cho hình vuông, cũng có nghĩa là Giao, chữ Giao 交 cũng có hình chéo, tức vùng Giữa, là nơi giao lưu của mọi miền, Chỗ Giữa đọc ngược lại theo cú pháp Hán là Giao Chỉ. Chu Văn Vương tức vua vùng đông đúc mà thôi, chứ không phải ông ấy họ Chu, mà ông ấy lại là họ Cơ 姬, gốc từ vùng sông Cả, tên ông ấy là Cơ Xương姬 昌, được phong đất vùng Tây Bá tức vùng núi đá phía tây ( theo như tiếng Choang “bá” nghĩa là “núi đá” mà ngày nay khai quật được di chỉ trống đồng ở núi Ba Thị tức “núi đá gốc” theo tiếng Choang, nay gọi là Đại Minh sơn ở Quảng Tây, là đất tổ của người Choang, hậu duệ của người Tày cổ tức dân Lạc Việt). Tây Bá tức vùng Qúi Châu và Quảng Tây ngày nay, sau khi được phong đất Tây Bá thì ông Cơ Xương được gọi là Tây Bá Cơ Xương. Chữ 國 ấy người Việt Nam đọc là Quốc, người Quảng Đông đọc là Coọc. Quốc Vương là Vua của Nước, vì “Quốc” = “Của Nước” mà trong chữ Quốc ấy còn rõ cả Họ Lạc và cái qua đồng của dân Lạc Việt thì rõ ràng không phải là ta đi mượn của “từ Hán Việt” nào cả, như các nhà hàn lâm vẫn nói. Cái từ “Nác của Nác” hay Nác Nác = Lạc Quốc còn hiện diện ở miền Trung Việt Nam trong từ Đắc Lắc, nơi các sắc tộc vẫn còn có cây Nêu trong ngày hội như ở người Kinh có cây Nêu trong ngày Tết, Đắc nghĩa là nước, Lắc cũng nghĩa là Nước, cái “hồ Lắc” là miệng núi lửa xưa ở đó có nghĩa là “hồ Nước”, Đắc Lắc cũng có nghĩa là một Nác Nác = một Lạc Quốc vậy. Ở đó cư dân vẫn còn ở nhà sàn tre mái cong như nhà sàn tre mái cong của người Việt xưa hay ở các vùng khác của Đông Nam Á, mà kiểu nhà ấy tiếng Mã Lai và Indonexia gọi là “Tangga”, tiếng Chăm gọi là “Thanggiơ” đều có nghĩa là “bước lên Thang mới vào được Nhà”, mà từ “Thang” thì có nghĩa là “cái để leo” của tiếng Việt, còn từ “Thoòng” của tiếng Hoa nghĩa là “cái nhà” mà chữ nho viết là chữ Đường 堂 trong “từ đường” là cái “nhà thờ”. Ngôn ngữ và văn hóa từ thời thượng cổ đã từ phương Nam mà đi lên phương Bắc là như vậy. Cái mái cong bằng tre của nhà rông ấy hiện diện ở khắp Hoa Nam là mái ngói cong, còn lên phía Bắc là mái bầu chóp tròn như cái nậm rượu hồ lô, dư ấn của cái lều vải úp của dân du mục đồng cỏ.

Từ qui tắc lướt để tạo từ của tiếng Việt, ta còn thấy nguồn gốc rặc Việt của từ TẾT. Các nhà hàn lâm ở Hà Nội thì giải thích rằng “Tết ta là ăn tết theo tết Tàu, theo lịch Tàu; người Tàu gọi cái lễ đón năm mới ấy là Xuân Tiết, ta mới gọi tắt một tiếng là Tiết rồi đọc chệch đi thành Tết ” (?). Nhưng chính các nhà hàn lâm ấy khi gọi tắt thì vẫn theo qui luật là gọi bằng tiếng đầu bỏ tiếng đuôi, ví dụ đi vô xứ Nghệ An thì nói tắt là đi vô xứ Nghệ chứ không nói là đi vô xứ An, đi vô xứ Quảng Ngãi thì nói tắt là đi vô xứ Quảng chứ không nói là đi vô xứ Ngãi. Ấy vậy mà Xuân Tiết lại không gọi tắt là Xuân mà lại gọi tắt là Tiết kể cũng tài (?). Làm tội các cháu khi du học bên Tây, nghỉ ngày Tết âm lịch, các bạn Tây hỏi ồ sao chúng mày cũng đón Chinese New Year à ? thì không biết trả lời như thế nào. Tục Tết là từ ta đi lên hay từ Tàu đi xuống?. Nguyên thủy nó là từ Té , là té nước trong lễ hội cầu mưa của cư dân nông nghiệp Nam Á, nghi lễ cầu trời gọi là Tế, chữ nho viết là Tế 祭. Lễ lớn nhất trong năm là lễ cúng lúc đón giao thừa kết thúc năm cũ sang năm mới gọi là Tế Hết Năm (Tàu gọi là Quá Niên , cũng còn gọi là Tất Niên là hoàn tất một năm cũ). Do qui luật lướt nên “Tế Hết Năm” đã lướt thành “Tết Năm” (Tế Hết = Tết), cái từ Tết Năm ấy gọi tắt thì theo qui luật lấy tiếng đầu là Tết chứ không lấy tiếng cuối là Năm. Đó là sự hình thành chính xác nhất từ Tết trong ngôn ngữ Việt bắt nguồn từ phong tục cổ xưa nhất của người Việt từ thời Thần Nông cách nay hàng vạn năm. (Tết bắt nguồn từ lễ hội Té nước, nước té rồi thì nó ngã rạp xuống đất, nên người phương nam còn gọi ngã là Té nhưng nó bao hàm cả rớt xuống nước, bởi dân sông nước thì ngã chỉ có nghĩa là rớt xuống nước tức Té, về sau từ Té dùng chung cho cả trên cạn nên ngã xe máy cũng gọi là Té xe máy).

Chuẩn bị cho Tết nhất định phải có cây Nêu, là cây tre dựng đứng mà từ thời cổ đại tổ tiên ta đã dùng đo bóng nắng mặt trời để tính ra lịch nông nghiệp gọi là âm lịch, nên cây Nêu phải dựng ngoài sân tức ngoài trời để thờ Trời, tức cây trụ của từ Trụ nghĩa là thời gian trong từ ghép Vũ Trụ, mà Vũ có nghĩa là không gian lại là do từ Vỏ, là cái vỏ mênh mông chứa đựng và vo tròn tất cả . Nội dung Tết Việt là phải đủ như câu: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ; Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”, trong đó thấy đủ cả Âm Dương Ngũ Hành, nông nghiệp, công nghiệp và văn học. Tục cây Nêu ngày nay vẫn tồn tại trong các lễ hội và trong Tết. Ở thành phố nhà không có sân để dựng cây Nêu thì người ta đành dựng bên lễ cúng là cây mía còn nguyên cả ngọn tượng trưng cho cây Nêu, vì nó cũng nhiều đốt như cây tre vậy. Trên cây Nêu treo các thứ tượng trưng cho mong ước tốt đẹp, nên từ Nêu là ý đẹp, nêu gương tốt. Nhưng trong đời sống cũng có khi bắt buộc phải nêu gương xấu để răn đe. Cái cây Bắt (phải) Nêu ấy lướt thành cây Bêu, như cây treo con bù nhìn xấu xí để đe chim khỏi phá hạt mới gieo ở ngoài đồng, gọi là cây Bêu. Cũng có khi chẳng phải ý đẹp hay ý xấu mà vẫn buộc phải Bắt Nêu thì người ta đã lướt thành cây Bẹo, đó là cây tre dựng treo các loại trái cây và hàng hóa mẫu để “quảng cáo tiếp thị” gọi là cây Bẹo trên mỗi thuyền bán hàng của chợ nổi vùng sông nước miền tây Nam Bộ. Cây Nêu đã từ Tết đi vào cuộc sống bình thường của người dân. Tìm khắp đất Hoa Bắc chẳng có tục cây nêu từ thượng cổ đến nay mà học giả nước ta lại dám bảo là Tết ta là do từ bên Tàu kể cũng lạ.
avatar
Lý Quảng

  • Chuyên mục: Khoa Học&Xã Hội

Chuyên mục: Khoa Học&Xã Hội

Tổng số bài gửi : 499
Mỹ Kim : 1187
Join date : 05/12/2009

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: Tết ta..................

Bài gửi by PHƯỢNG_HOÀNG on Fri Dec 17, 2010 1:54 pm

met

Ui ,
Rắc rối góa ...
Em chỉ biết , Tết là được ăn nhiều bánh mứt ...
Có thế thui ...
Hi hi ...


met
avatar
PHƯỢNG_HOÀNG

Chức danh: Nhã Thi
 Chức danh: Nhã Thi

Tổng số bài gửi : 190
Mỹ Kim : 699
Join date : 07/10/2010

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết